5 Loại Kimono của Nhật Bản

5 Loại Kimono của Nhật Bản
4 (80%) 3 votes

Nhắc đến Nhật Bản, người ta sẽ nghĩ ngay đến những bộ Kimono của những cô gái Nhật kiêu sa, đài các. Đây không chỉ là y phục truyền thống của người Nhật Bản mà đã trở thành quốc phục, biểu tượng cho nền văn hoá lâu đời của đất nước mặt trời mọc. Kimono từ lâu đã được xem như một tác phẩm nghệ thuật, với màu sắc và chất liệu phong phú, tôn vinh những nét đằm thắm của người phụ nữ xứ Phù Tang.

Phong tục mặc Kimono của người Nhật Bản
Kimono thời xưa được cả đàn ông và phụ nữ mặc như trang phục hàng ngày. Du nhập vào Nhật Bản vào khoảng đầu thế kỷ thứ 7, phục trang Kimono của người Nhật ở thời Nara khá đơn giản, gồm 1 bộ tách rời áo và quần (hoặc váy) và hoàn toàn không làm tôn lên dáng vẻ của người mặc, đặc biệt đối với phụ nữ. Thời đại trị vì của vua Heian, Kimono được thể hiện tinh tế hơn dưới dạng những bộ đồ lót bằng cotton, từ đó người Nhật chắt lọc được những tinh túy, sáng tạo nó thành một kiểu riêng, đẹp và cầu kỳ hơn và Kimono chính thức được đón nhận và phát triển nhanh chóng trở thành trang phục truyền thống của người Nhật trong thời kỳ này.

kimono-freestyle

kimono-freestyle

Theo truyền thống áo Kimono được may từ các loại vải dệt từ nguyên liệu tự nhiên như vải lanh, vải bông, vải lụa. Qua thời gian, người Nhật bắt đầu quan tâm đến việc phối hợp những bộ Kimono với nhiều màu sắc khác nhau. Cũng từ đó, sự kết hợp màu sắc thể hiện theo mùa hoặc theo địa vị chính trị của người mặc bắt đầu xuất hiện. Vào thời Edo (1603-1868) Kimono đã có một thay đổi lớn với sự ra đời của thắt lưng Obi.
Mỗi bộ Kimono đều được làm thủ công và mang tính cá nhân, vì vậy có thể xem đó như là một tác phẩm nghệ thuật công phu, tỉ mẩn từ khâu chọn vải, kết hợp màu sắc, trang trí hoa văn, và lựa chọn các phụ kiện đi cùng.

Kimono của phụ nữ Nhật Bản
Cách thức mặc Kimono khá phức tạp và có những nguyên tắc riêng của nó. Khi mặc Kimono, người mặc quấn từ bên phải vào trước rồi mới đến bên trái, và chỉ quấn ngược lại khi đi dự tang lễ. Bên cạnh đó cũng có các sự khác biệt trong bộ Kimono theo tuổi tác, tầng lớp xã hội, và thậm chí theo từng mùa. Khi mặc Kimono phải mặc juban – một loại áo Kimono lót để tránh cho Kimono khỏi bị vấy bẩn – sau đó cuốn bên phải, bên trái và thắt lại bằng thắt lưng Obi làm bằng chất liệu lụa đắt tiền. Việc mặc Kimono mất khá nhiều thời gian, và hầu như không thể tự mặc. Người mặc Kimono phải đi guốc gỗ, và mang bít tất Tabi màu trắng.
Dựa trên những đặc điểm độc đáo về văn hoá Nhật thể hiện qua những nghi thức xã hội và tình trạng hôn nhân của người mặc, Kimono được phân thành nhiều loại mà trong đó tiêu biểu là 5 loại sau:

1. Furisode: Đây là loại Kimono có tay áo dài và rộng (từ 95 đến 115cm), dành riêng cho những cô gái chưa có chồng. Khi một cô gái Nhật Bản bước sang tuổi 20, cô ấy sẽ được công nhận là một người trưởng thành và sẽ được phép làm nhiều việc, đồng thời cũng mang nhiều trách nhiệm hơn. Vì vậy, nhiều gia đình ở Nhật chọn mua Furisode cho con gái họ để kỷ niệm bước ngoặt này.

Kimono Furisode

Kimono Furisode

2. Houmongi:Nếu như Furisode chỉ dành cho các cô gái trẻ thì Houmongi dành cho bất kỳ ai. Houmongi được xem như là loại Kimono sẽ thay thế Furisode khi người phụ nữ Nhật kết hôn. Màu sắc của Houmongi thường nhẹ nhàng và trang nhã hơn Furisode. Cũng như tay áo của Houmongi thường dài chỉ bằng phân nửa so với Furisode.
Họ mặc Houmongi khi đi dự đám cưới hoặc tiệc trà, những bữa tiệc hoặc viếng thăm mang tính trang trọng. Khi kết hôn, phụ nữ Nhật Bản không được phép mặc Furisode, tuy nhiên họ vẫn có thể mặc Houmongi như phục trang Kimono bình thường.

Kimono Houmongi

Kimono Houmongi

3.   Tomesode: Phụ nữ đã kết hôn không bao giờ được mặc Furisode, dù họ có li dị chồng đi chăng nữa. Thay vào đó, Tomesode, một dạng Kimono với ống tay áo ngắn hơn, thường có màu đen được thiết kế dành riêng cho họ. Tomosode đen thường được đính gia huy tượng trưng cho họ tộc, dành để mặc vào các dịp trang trọng.

4. Tsumugi: Dành cho những người nông dân và thường dân. Loại Kimono này được trang trí theo dạng hoa văn chạy dọc theo thân và lưng áo rồi gặp nhau ở đỉnh vai. Tsumugi được mặc vào các buổi tiệc tùng trà đạo, cắm hoa và đám cưới của bạn bè.

5.   Yukata: Là một loại Kimono làm bằng cotton bình thường, dùng để mặc trong mùa hè. Yukata thường mang màu sắc tươi sáng với hoạ tiết nhẹ nhàng. Cách thiết kế đơn giản của Yukata là để các cô gái Nhật có thể mặc mà không cần sự giúp đỡ. Yukata xuất hiện rất nhiều tại Việt Nam và bây giờ thì đang trở thành một phục trang thường gặp, đặc biệt trong các lễ hội truyện tranh hoạt hình.

Chính bởi Kimono là biểu tượng trang phục của xứ sở Phù Tang, một Geisha khoác trên mình những bộ cánh Kimono cũng là hình ảnh đặc trưng của văn hóa truyền thống Nhật. Vì tính chất công việc, Geisha sẽ là những người sở hữu nhiều bộ Kimono đa dạng và phong phú. Mỗi lần xuất hiện, họ mang nét đẹp Kimono đến gần hơn với mọi người. Kimono giúp họ tỏa sáng trong từng điệu múa uyển chuyển tinh tế, hòa mình đằm thắm trong từng điệu ca, phong thái và tôn thêm nét nghệ thuật trong từng cử chỉ tiếp chuyện.

Nguồn Aquavietnam.com.vn

Linh Kiện SANYO Nhật Chế Xe Đạp Điện ở Việt Nam

Linh Kiện SANYO Nhật Chế Xe Đạp Điện ở Việt Nam
Rate this post

Hiện nay giá xe đạp điện trên thị trường rẻ nhất cũng từ 8 triệu đồng/chiếc. Tuy nhiên, chỉ cần bỏ ra trên dưới 2 triệu đồng cho một bộ phụ kiện hoàn chỉnh, người mua có thể dễ dàng lắp ráp, chế xe đạp thô sơ thành xe đạp điện
Hiện phụ kiện để chế xe đạp điện bán theo bộ có 2 loại hàng: hàng Nhật bãi, thông thường là hàng nhãn hiệu Sanyo, có giá 1,8 triệu đồng/bộ, và hàng Trung Quốc mới toanh, giá chỉ nhỉnh hơn từ 100.000 đến 200.000 đồng. Tuy nhiên, Huyên chia sẻ, lượng khách mua hàng Nhật bãi Sanyo nhiều hơn vì bền hơn, giá lại rẻ hơn hàng Trung Quốc
bo-phu-kien-sanyo-che-xe-dap-cu
Ngọc Huyên (sinh viên năm 3 trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội) mới kinh doanh được vài tháng nhưng khá đắt hàng. Huyên cho biết, để chế xe đạp thường thành xe đạp điện cần có một bộ phụ kiện gồm động cơ, bo điều khiển, dây ga, ắc quy, mạch sạc. Ắc quy gắn ở gác-ba-ga sau xe, còn động cơ gắn vào bánh trước. Nguyên một bộ lắp vào xe như vậy nhưng rất gọn gàng, đảm bảo tính thẩm mỹ. Xe chế xong có thể chạy với vận tốc 20-25 km/h, sạc đầy một bộ gồm 2 bình ắc quy mất 4 tiếng, đi được 20-22 km. Nếu muốn đi xa hơn, khách hàng có thể chế thêm ắc quy với giá hơn 500.000 đồng/bộ.
Tháo lắp đơn giản nhưng khá tốn thời gian nên công chế cho một xe là 300.000 – 400.000 đồng. Tuy nhiên, để tiết kiệm tiền và thể hiện tài lẻ, nhiều bạn trẻ tự mua phụ kiện về lắp ráp, thậm chí trang trí phụ kiện theo ý tưởng sáng tạo của cá nhân. Nguyễn Trung Quân (sinh viên năm 2, ĐH Nông nghiệp Hà Nội) thì mua phụ kiện chế xe vì đam mê hơn là vì nhu cầu. “Thực ra mình mê độ xe máy hơn, nhưng sinh viên không có tiền nên chế xe đạp trước. Phụ kiện muốn rẻ thì ra chợ Giời, tha hồ chọn đồ rẻ mà tốt. Nhưng nếu bạn nào không có thời gian và đặc biệt là không có kinh nghiệm thì cứ lên mạng mà đặt mua cả bộ. Xe đạp điện giờ mua mới cũng trên dưới chục triệu đồng, trong khi mua phụ kiện chế từ xe thường chỉ mất khoảng 1,5 triệu đồng, cần thì mua thêm đôi bình ắc quy hơn 500.000 đồng nữa là đi thoải mái rồi”.

Nguồn Zing News

Geisha Họ Là Ai?

Geisha Họ Là Ai?
Rate this post

“Gei” là thuộc về nghệ thuật. “Sha” là người. Geisha có nghĩa là một con người của nghệ thuật. Một người có tài cầm, kỳ, thi, hoạ cũng như trò chuyện làm vui lòng khách. Nhắc đến Geisha, một số người lầm tưởng là “kỹ nữ Nhật”. Thật ra không phải vậy. Bản chất của Geisha chỉ dừng ở mức đùa giỡn, tán tỉnh, múa hát. Họ được đào tạo bài bản để mang lại niềm vui cho khách và tuyệt đối không bao giờ được đi quá giới hạn với khách. 2. Geisha đầu tiên của Nhật Bản không phải là phụ nữ?

Geisha-ho-la-nam-gioi

Nói đến đây, ta dễ dàng tưởng tượng ra một người phụ nữ “mặt phấn, môi son” trong bộ kimono đang uyển chuyển nữ tính rót trà mời khách hoặc múa hát mua vui. Thực ra, thế hệ Geisha đầu tiên của xứ sở hoa anh đào lại là đàn ông, bắt đầu từ thế kỷ 13. Họ được gọi là Honko. Honko được đào tạo bài bản, đảm bảo đầy đủ các kỹ năng cần thiết để nhảy múa, ca hát ở các quán rượu, nhà hàng, giúp vui cho các vị lãnh chúa. Ngoài khả năng trình diễn nghệ thuật được luyện tập và trau dồi theo năm tháng, họ còn có khả năng trò chuyện khéo léo, trở thành bạn trà trí tuệ, giúp những vị khách của mình thực sự có những giây phút được giải trí, thư giãn.

Cho đến một ngày của năm 1751, người đàn bà Geisha đầu tiên xuất hiện tại một buổi tiệc. Vẻ yêu kiều cùng tài năng của cô đã làm say đắm tất cả quan khách. Kể từ đó, số lượng Geisha nữ ngày một tăng lên, Geisha nam trở thành người hỗ trợ cho Geisha nữ tại các buổi tiệc. Họ được gọi là taikomochi với ý nghĩa là “Geisha nam”. Và dần dần, số lượng Geisha nam bắt đầu suy giảm. Đến năm 1980, số lượng các Geisha nữ đã gấp 3 lần số Geisha nam.

Cách Làm Bánh Mochi Bánh Dày Nhật Bản

Cách Làm Bánh Mochi Bánh Dày Nhật Bản
Rate this post

Bảo hành Sanyo xin hướng dẫn cách Làm Bánh Mochi một loại Bánh Dày Nhật Bản ,bánh mochi có rất nhiều loại như mochi nhân kem mochi đậu đỏ mochi bí đỏ mochi trà xanh . Ở đây Sanyo Aqua xin hướng dẫn cách làm bánh mochi trà xanh đơn giản nhất

Cách làm bánh mochi trà xanh

Cách làm bánh mochi trà xanh

Cách làm

– B1: Trộn thật đều bột mochi với bột trà xanh, đổ từ từ nước và đường vào rồi khuấy đều.
– B2: Dùng nylon bọc kín và đem vi sóng khoảng 1 phút. Tiếp tục trộn đều, bọc lại và vi sóng tiếp 1 phút nữa.
– B3: Nhào kĩ để khối bột nhuyễn mịn (dùng bột khoai tây để làm bột áo giúp bột không dính)
– B5: Cán mỏng bột, cắt thành từng miếng nhỏ rồi bao viên kem lại.

Các fan AQUA có thể tham khảo công thức làm bánh Mochi cực ngon mà cũng rất “hạt dẻ” này tại nhà nhé!

ONSEN là gì ? Onsen Spa ở Nhật Bản

ONSEN là gì ? Onsen Spa ở Nhật Bản
5 (100%) 1 vote

Onsen là gì? “Onsen” trong tiếng Nhật nghĩa là suối nước nóng tự nhiên. Và hình thức thư giãn này đã thu hút rất nhiều khách du lịch đến Nhật Bản hàng năm. Điều gì đã hấp dẫn mọi người đến vậy nhỉ?

Onsen Nhật Bản suối nước nước sức khỏe của người Nhật

Onsen Nhật Bản suối nước nước sức khỏe của người Nhật

Nhật Bản được biết đến với những ngọn núi lửa đã không còn hoặc vẫn còn hoạt động. Tại khu vực này hình thành những suối khoáng nóng tự nhiên. Chuyện kể rằng từ thời xưa, khi người nông dân kết thúc một vụ gặt – thường là vào mùa thu, họ tìm đến khu vực có suối khoáng nóng để tắm, thư giãn, đôi khi mang theo cả đồ ăn để nấu nướng, tận hưởng những giây phút cơ thể được nghỉ ngơi hoàn toàn.

Truyền thống đó được gìn giữ cho đến ngày nay. Hiện tại, số lượng suối nước nóng ở Nhật Bản khá nhiều, nhưng “onsen thực sự” là những nơi đáp ứng đủ điều kiện về nhiệt độ và thành phần khoáng chất.

Có rất nhiều loại hồ khoáng khác nhau, tùy thuộc vào lượng khoáng hòa tan trong nước. Mỗi loại sẽ mang đến một lợi ích nhất định cho sức khoẻ. Nhưng tất cả đều thể hiện vẻ đẹp chung ở việc đưa bạn đến cửa ngõ của sự an nhiên trong tâm hồn, lau sạch những bộn bề phân vân… để cảm hứng viễn du lại được đổ đầy trong tim bạn.

onsen spa ở Nhật Bản

onsen spa ở Nhật Bản

Đến với onsen Spa, bạn sẽ hoàn toàn không mặc gì trên người. Những người trẻ bận rộn, có gì tuyệt vời hơn khi họ được ngưng lại thời gian dù chỉ một ngày, hòa cùng mẹ thiên nhiên và cảm nhận bao mệt mỏi được xua tan hết. Ung dung, tự tại, để thiên nhiên dẫn dắt bạn qua những cảm xúc đặc biệt, qua thanh âm nước chảy hay ríu rít chim hót bình yên. Để bạn thả mình, quên đi hối hả thường nhật và đong thật đầy hơi thở bằng bầu không khí tĩnh yên của một xứ phương Đông quyến rũ. Để hơi nước bám vào mặt mình thật ấm nóng và cảm nhận gân cốt giãn ra… từng chút… từng chút một…“Cảm giác mạnh” hơn nữa là khi bạn trải nghiệm onsen vào tiết trời lạnh giá của mùa đông, toàn thân được ôm ấp bởi làn nước ấm trong khi da mặt lại hòa vào hun hút gió trời…